Quiet! This is a new secret language among the students. Memorize it and destroy it before any of the professors find out.
Lisa to Marinette
Ngôn ngữ trên thế giới
Ngôn ngữ là một công cụ quan trọng trong xã hội loài người. Con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp, từ đó có thể hợp tác làm những công việc phức tạp mà một người không thể làm nổi, đồng thời truyền lại những kinh nghiệm và tri thức từ đời này sang đời khác. Nhờ vậy mà xã hội loài người phát triển, đạt đến những thành công không ngờ tới mà trong đó ngôn ngữ góp phần không nhỏ.
Ngôn ngữ, dù được gọi là ngôn ngữ tự nhiên, nhưng sự hình thành và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào văn hóa và xã hội của nhóm người tương ứng. Vì vậy mà trên thế giới, các nền văn hóa phát triển độc lập với nhau hình thành nên những ngôn ngữ khác nhau và thậm chí cùng một ngôn ngữ sẽ dần biến tướng theo vùng miền để rồi không còn nhận ra nhau nữa. Quá trình tiến hóa cùng với văn hóa này chính là cái “tự nhiên” của ngôn ngữ.
Vì sự khác nhau đó, ngôn ngữ trở nên đa dạng, mang đủ hình thù màu sắc, tốt có, xấu có. Nhưng liệu chúng ta có thể cùng nhau làm ra một ngôn ngữ hiệu quả để thống nhất cùng nhau sử dụng cho toàn thế giới
Tiếng Việt
Tiếng Việt có nguồn gốc sâu xa bắt nguồn từ tiếng Hán ngày xưa, được cải tiếng thành chữ Nôm (vẫn dùng từ tượng hình như có âm đọc và ý nghĩa khác với tiếng Hán) rồi dần được chuyển thành chữ quốc ngữ ngày nay (dùng ký tự la tinh để thể hiện từ).
Thường thì một người rất khó nhận ra những bất cập trong một ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ của mình vì nó là thứ đầu tiên hình thành và gắn liền với sự khám phá thế giới của một con người. Nhưng sau khi tiếp xúc và được nghe nhiều người nước ngoài học tiếng Việt, một điểm phàn nàn là tiếng Việt có quá nhiều dấu.
Về mặt ngữ pháp hay ngữ nghĩa, tiếng Việt lại tương đối đơn giản. Một tiếng chỉ có một nguyên âm và thường chỉ đọc bằng một âm duy nhất, một từ cao lắm cũng chỉ có hai âm nên khiến tiếng Việt đọc gọn và đơn giản (ví dụ “cá” là một ấm trong khi “in-ter-na-tion” lại có tới 4 âm). Ngữ pháp lại cũng đơn giản khi không có những biến thể của từ (ví dụ “chạy” đều có thể dùng để biểu thị hiện tại, tương lai, quá khứ, danh từ, động từ, thậm chí là trạng từ như “bán chạy”). Nhiều người bảo như vậy sẽ nhập nhằng vì không phân biệt rõ ràng nhưng vì bản chất trong các thì khác nhau hay các từ loại khác nhau, chúng ta vẫn đang chỉ đề cập đến một khái niệm duy nhất (đó là khái niệm “chạy”) và thường ta có thể suy diễn ra thì hay loại từ dựa vào ngữ cảnh.
Nhưng những ưu điểm đó không thể nào bù vào cái rườm rà trong dấu của tiếng Việt. “Cò”, “có”, “cỏ”, “cọ”, “co” đối với người Việt là 5 từ hoàn toàn khác nhau, gần như chả liên quan gì về ngữ nghĩa nhưng lại chỉ khác nhau về sự lên giọng xuống giọng của dấu. Đối với những người nước ngoài, họ gần như không thể phân biệt được sự khác nhau khi nghe 5 từ này. Đó là còn chưa kể những biến thể của nguyên âm như “A”, “Ă”, “” càng làm cho sự phức tạp này thêm trầm trọng.
Dấu cũng khiến cho việc ghép nhạc vào từ trở nên phức tạp. Hãy thử ghép từ “mẹ” với một nốt cao như nốt si. Rất khó phải không nào. Từ “mẹ” sẽ ngay lập tức biến tướng thành “mé” và sẽ làm cho câu hát trở nên khó nghe.
Tiếng Anh
Tiếng Anh, một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới, lại cũng đầy rẫy những bất cập riêng. Rất nhiều những diễn viên hài đã lấy ý tưởng từ những bất cập đó để làm nên tiểu phẩm của mình. Những bất cập như “tomb” và “comb” lại phát âm hoàn toàn khác nhau, hay “hour” lại không có âm “h”, hay tại sao he/she/it lại là “runs” thay vì “run”. hay “read” thay vì “readed” cho thể quá khứ của “read”. Biến thể và bất quy tắc rải rác khắp nơi trong tiếng anh đến nỗi khi nghe một từ, ta chưa chắc có thể biết viết từ đó như thế nào. Đáng lý ra một ngôn ngữ tượng âm như tiếng anh phải rõ ràng hơn so với tiếng Trung, một ngôn ngữ tượng hình, trong việc nghe có thể biết viết nhưng vì có quá nhiều bất quy tắc khiến người mới rất rối loạn. Có người còn bảo rằng tiếng Anh không phải là một ngôn ngữ mà là nhiều ngôn ngữ trộn lại giả làm một ngôn ngữ.
Một bất cập khác của tiếng Anh là đa âm trong một từ. “Pneumonoultramicroscopicsilicovolcanoconiosis” là một từ trong tiếng Anh, tin nổi không (chỉ một loại bệnh về phổi). Đây là bất cập chung cho nhiều ngôn ngữ dùng bảng chữ cái để mô tả âm (latinh hoặc các bảng chữ cái tương tự) vì để mô tả một âm cần nhiều chữ cái xếp hàng dài để mô phỏng, và tiếng anh, với tính chất đa âm, càng kéo dài từ của mình hơn nữa. Có lẽ đó là lý do vì sao viết tắt trở thành một thứ rất thường thấy trong tiếng anh.
Tiếng anh không chỉ viết tắt mà còn đọc tắt. Trong tiếng Việt, “UBND” khi viết nhưng vẫn đọc là “Ủy Ban Nhân Dân” vì không có cách đọc tắt. Đọc là “U Bờ Nờ Dờ” vẫn chả tắc gì vì vẫn là 4 âm tiết. Nhưng trong tiếng anh, “WTO” (V-kép Tê Ô) và “World Trading Organisation” (Word Tra-ding Or-ga-ni-sa-tion) rõ ràng có sự khác biệt lớn về số lượng âm tiết. Thậm chí còn đọc từ viết tắt như một từ, ví dụ “SOTA” (so-ta) và “State of the Art”, rút từ 4 âm thành 2 âm.
Thì trong ngữ pháp tiếng anh lại càng phức tạp. Chia ra rõ ràng cho quá khứ (past tense), hiện tại (present tense) và tương lại (future tense). Mỗi thì lại càng chia nhỏ nữa thành dạng đơn, dạng hoàn thành, dạng tiếp diễn, … Nhưng khi áp dụng vào thực tiễn, việc xác định điều mình muốn nói thuộc thì gì khá là phức tạp, đặc biệt là trong những trường hợp giả định hay khoa học viễn tưởng. Trong Big Bang theory, có một tập trong đó các nhân vật giả định về du hành thời gian thì sẽ phải dùng thì gì khi mình đang nói về một sự kiện trong quá khứ khi du hành về quá khứ. Nếu tôi đi về quá khứ thì tôi “sẽ” gặp ông nội tôi hay tôi “đã” gặp ông nội tôi. Trong khi việc “tôi gặp ông nội” mới là thông tin quan trọng.
Tiếng Trung
Tiếng Trung có nhiều điểm giống tiếng Việt về mặt ngữ pháp hay từ vựng, cùng là đơn âm, cùng không có nhiều biến thể của từ, thậm chí lại còn gọn gàng hơn những ngôn ngữ khác.

Điều này ta có thể thấy trong thơ xưa của Trung Quốc thường chỉ vỏn vẹn 4 câu, mỗi câu 5 hay 7 chữ, thậm chí 3 chữ như trong Tam Tự Kinh. Tiếng Trung ngắn và gọn như vậy vì không đòi hỏi các mạo từ như “the”, “a”, “an” hay các giới từ như “in”, “on”, “at”. Đã gọn, tiếng Trung lại càng rút gọn khi viết tắt nhiều từ như “Bắc Đại” là “Đại Học Bắc Kinh” hay “Ủy Ban Nhân Dân” thành “Nhân Ủy”.
Nhưng cái khó rõ ràng nhất trong tiếng Trung chính là cách viết. Với việc sử dụng chữ tượng hình, cách đọc và viết của tiếng Trung gần như chẳng liên quan gì nhau. Khi nghe một từ tiếng trung mới rất khó để đoán biết được mình nên viết nó như thế nào. Sẽ càng phức tạp hơn đối với những từ đồng âm với nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau và viết hoàn toàn khác nhau.
Đã khó lại càng khó hơn khi nhiều từ tiếng Trung chỉ khác nhau mỗi một nét phầy hay nét chấm, khiến cho việc ghi nhớ hình ảnh trở nên phức tạp. Mình từng hỏi người Trung Quốc viết giùm một số từ và hầu như ai cũng chững lại một chút ở một vài từ khi viết và thậm chí còn không chắc là mình có viết đúng từ đó hay không.
Tiếng Nhật
Tiếng Nhật, dù khá phổ biến vì nhờ vào sự phát triển của văn hóa Nhật Bản, lại không phải là một ngôn ngữ hiệu quả. Dưới một góc nhìn nào đó, tiếng Nhật mang trong mình rất nhiều điểm xấu của những ngôn ngữ khác.
Tiếng Nhật có tới tận 3 hệ chữ viết khác nhau: Hiragana, Katakana và Kanji. Không như tiếng Việt đã tách biệt hoàn toàn khỏi ngôn ngữ tượng hình của tiếng Trung, tiếng Nhật lại lựa chọn sử dụng cả hai. Ngôn ngữ viết tiếng Nhật bao gồm cả chữ Hiragana để tượng thanh và cả Kanji tượng hình, khiến cho thay vì loại bỏ cái phức tạp trong tượng hình của tiếng Trung nó lại bồi thêm cái phức tạp của tượng thanh.
Đã thế, cùng một chữ Kanji nhiều khi lại có nhiều cách đọc khác nhau. Tiếng Nhật có tận 2 cách đọc: Onyomi và Kunyomi. Onyomi là phiên âm lại theo tiếng hán, ví dụ 山 (Sơn) đọc là San (trong 富士山 – Fujisan). Còn Kunyomi là cách đọc thuần nhật,ví dụ 山 (Núi) đọc là Yama, khá giống với kiểu cải cách tiếng Nôm trong lịch sử tiếng Việt. Tuy nhiên, nếu chỉ có như thế thì đã đơn giản. Nhiều từ sẽ có những cách đọc địa phương không theo quy chuẩn nào cả. Ví dụ ga Kasuga – 春日駅 (Xuân Nhật) trong tuyến Mita line ở Tokyo có tên được ghép từ chữ Xuân (春) và chữ Nhật (日) – có lẽ dịch ra thành ngày xuân – nhưng cách đọc Kasuga lại chẳng liên quan gì đến hai chữ ấy (春 đọc là Shun/Haru, 日 đọc là Hi/Nichi/Jitsu).
Cách viết của tiếng Nhật lại cũng rất dài. Trung bình một từ có từ 2 đến 4 âm tiết (ví dụ “haru” là 2 âm, “sakura” là 3 âm, mỗi âm được biểu thị bở một kí tự hiragana) khiến cho viết phát âm một từ tiếng Nhật trở nên tương đối dài (có vẻ vì vậy nên Kanji trở nên không thể bỏ được vì nó rút gọn không gian viết rất nhiều). Và sẽ càng dài thêm khi phải phiên âm cả âm gió trong những từ mượn, ví dụ như McDonald (vốn được xem như chỉ 3 âm trong tiếng Anh) trở thành Makudonarudo (tận 6 âm tiết). Chính vì vậy hình thái rút gọn trong tiếng nhật rất phổ biến, không chỉ lượt giản từ mà đôi khi còn bỏ cả chủ ngữ hay có context không cần thiết trong câu, khiến tiếng Nhật là một ngôn ngữ đòi hỏi ngữ cảnh và suy diễn của người nghe rất nhiều.
Tuy nhiều khuyết điểm như vậy như tiếng Nhật lại làm được một việt là lựa chọn cấu trúc câu SOV thay vì SVO, tức là động từ nằm cuối câu thay vì giữa câu (“Tôi cơm ăn” thay vì “Tôi ăn cơm”). Nhiều người cho rằng như vậy mới là lộn xộn nhưng có thể là do ngôn ngữ SVO khá phổ biến nên trở thành định kiến, chứ nếu xét về khía cạnh ngôn ngữ SOV có nhiều ưu điểm hơn. Ưu điểm lớn nhất chính là dễ phân tích thành phần vì tính dồn về một phía. Phân tích thành phần (Parsing) trong ngôn ngữ tự nhiên là xác định vai trò ngữ pháp và tính kết nối giữa các thành phần trong câu.

Cấu trúc sau khi phân tích thường có dạng cây và câu có thể hiểu là một dạng ép dẹp của cái cây đó. Trong phân tích cấu trúc của ngôn ngữ SVO vì V thường đóng vai trong chia cắt cấu trúc câu làm 2 nên việc đặt một từ sang bên nào trở thành một vấn đề có ý nghĩa. Ví dụ: I quickly jump over the dog và I jump over the dog quickly tạo nên 2 cấu trúc khác nhau mặt dù đáng lý ra chỉ nên có một vì không có thông tin ngữ nghĩa nào thật sự được bổ sung. Nhiều người bảo quickly jump nhấn mạnh tính chất của hành động hơn nên nó mang thêm ý nghĩa nhưng cái này giống như một kiểu quy định để giải thích thêm chứ không thật sự mang tính semantic.
Đối với tiếng Nhật thì hầu hết mọi thành phần trong câu đều dồn về một phía của nhau, giống như cái cây đổ thay vì ép dẹp từ trên xuống thì giờ kéo đổ sang một bên. Các cấu trúc chính phụ của câu rất dễ dàng xác định, như động từ chính luôn luôn nằm cuối. Cấu trúc SOV cũng được sử dụng trong ngôn ngữ cử chỉ (sign language) một ngôn ngữ ra đời sau này và được tạo ra nhiều hơn là phát triển tự nhiên. Hẳn phải có lý do gì đó mà SOV được sử dụng thay vì SVO.
Tiếng Hàn
Tiếng Hàn được xem là một trong những ngôn ngữ hiệu quả nhất thế giới. Danh hiệu này được nhắc đến trong các sách học tiếng Hàn cơ bản một cách tự hào. Thật vậy, tiếng Hàn tránh được rất nhiều phiền phức có trong các ngôn ngữ khác.
Thoạt đầu trông như tiếng Hàn là từ tượng hình nhưng thật chất nó lại là tượng thanh. Những ký tự trong bản chữ cái tiếng Hàn thật chất biểu thị một nguyên âm hoặc phụ âm và khi kết hợp lại thành một âm cụ thể, ví dụ 학생 đọc là hak-saeng (học sinh). Dù Hán tự vẫn còn nhưng rất ít được sử dụng và hầu như mọi thứ đều sử dụng cách viết tượng thanh này. Cách viết như thế này có rất nhiều ưu điểm. Vì là tượng thanh nên nó tránh được cái phức tạp của tượng hình nhưng giống như Hán tự của tiếng Trung, một từ lại chỉ gói gọn trong một phạm vi viết nhất định không trải dài như tiếng Viết (“학생” chiếm lượng không gian khi viết ít hơn “học sinh” và sẽ càng thể hiện rõ khi văn bản dài hơn). Có thể hiểu giống như thay vì tượng hình thì mỗi từ Hán tự trở thành tượng thanh vậy. Việc phân định các tiếng và từ cũng dễ dàng hơn.
Thêm nữa là những ký tự biểu thị âm trong tiếng Hàn được quy định một cách có hệ thống. Những từ có cách phát âm gần nhau hay sử dụng cùng một bộ phận trong miệng có cách viết gần tương tự để thể hiện sự tương đồng. Ngay cả cách viết cũng cố gắng ám chỉ bộ phận đó. Ví dụ ㅁ (âm “m”) và ㅂ (âm “b”) phát âm đều có cách bậm môi rồi mở ra nên được mô tả với hình vuông đại diện cho môi (trông như cái miệng) còn âm ㄴ(âm “n”) lại cần cong lưỡi lên nên có hình giống chiếc lưỡi đang được cong lên. Những âm tiết khác cũng có đặc điểm như vậy.
Tiếng Hàn cũng là ngôn ngữ SOV như tiếng Nhật nhưng vẫn giữ tính chất biến thể của từ và những cách nói phức tạp, đặc biệt là trong kính ngữ, nên ngữ pháp tiếng Hàn vẫn có nhiều điểm khó tiếp cận. Tuy nhiên nhìn chung vẫn rất hiệu quả.
Một ngôn ngữ hiệu quả chung cho thế giới
Với việc thế giới ngày càng kết nối, nhu cầu có một ngôn ngữ chung là điều cần thiết. Nhưng nếu chỉ lấy tạm một ngôn ngữ nào đó như tiếng Anh không chỉ thể hiện sự phân biệt mà còn không tạo ra một ngôn ngữ hiệu quả nhất cho giao tiếp. Không ngôn ngữ nào là hoàn hảo nhưng liệu ta có thể tạo ra một ngôn ngữ bằng cách kết hợp những ưu điểm dễ học của các ngôn ngữ trên thế giới.
Hãy thử tưởng tượng một loại ngôn ngữ viết gọn gàng và khoa học như tiếng Hàn và lại có ngữ pháp cũng gãy gọn như tiếng Trung. “床前明月光” ngắn gọn nhưng khó đọc sẽ thành “상전명월광” vẫn gọn gàng ngăn nắp thay vì “sàng tiền minh nguyệt quang” dài dòng, nhưng vẫn dễ dàng đọc được. Thay vì sử dụng những biến thể của từ để biểu thị thì ta có thể mượn sự bất biến trong ngữ pháp tiếng Việt để làm cấu trúc ngữ pháp bớt phức tạp.
Hy vọng rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ cùng nói một thứ ngôn ngữ chung được tạo ra một cách khoa học, hiệu quả, gọn gàng.
0 Bình luận