Càn Khôn xoay chuyển mà kéo theo thế giới vận hành. Các triều đại thịnh rồi suy, người đến rồi đi, vật có rồi mất. Tất cả đều vận động và chuyển đổi. Đó chính là Dịch.
Alibou, Ancient Witness
Kinh Dịch
“Dịch” nghĩa là dịch chuyển, biến đổi. “Kinh Dịch” là sách nói về sự vận hành và biến đổi của sự vật hiện tượng. Vạn vật theo thời gian đều biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Người xưa quan sát các sự biến đổi đó mà thống kê ghi chép thành kinh dịch. Nhiều người bảo “Kinh Dịch” là sách bói toán, nhưng theo cá nhân mình, nó giống với sách triết học ghi lại những kinh nghiệm và quan sát hơn. Liệu bảo rằng “thấy mây đen thì trời có khả năng cao sẽ mưa” hay “thả quả trứng trừ trên cao thì nó sẽ rơi xuống đất” là một kiểu bói toán hay đơn giản chỉ là kinh nghiệm quan sát được. Những sự biến đổi, chuyển dịch trong Kinh Dịch cũng tương tự như vậy, là những kinh nghiệm được ghi lại dưới hình thức quẻ với vạch âm dương.
Hà Đồ và Lạc Thư
Khi tìm hiểu về Kinh Dịch, thứ thường được nhắc đến đầu tiên thường là Hà Đồ và Lạc Thư. Truyền thuyết bảo rằng người xưa nhìn thấy Hà Đồ và Lạc Thư mà ngộ ra đạo âm dương của Kinh Dịch.

Nói về Lạc Thư, thật ra Lạc Thư được hình thành từ việc giải một bài toán vô cùng quen thuộc: Sắp xếp các số từ 1 đến 9 vào một ô 3×3 sao cho tổng các đường ngang, dọc chéo có tổng bằng nhau. Quan niệm của người xưa lấy hướng Bắc làm chủ nên để số 1 ơ hướng chính Bắc. Để tổng bằng nhau thì ở giữa nên là số trung gian nhất, số 5. Từ đó các số khác có thể lần lược sắp xếp theo và hình thành nên cấu trúc của Lạc Thư. Như vậy, Lạc Thư đơn giản chỉ là toán? Có thể nói là như vậy. Sau khi có được Lạc Thư, lấy số 5 trung tâm làm đối xứng, ta sẽ thấy được các số còn lại chia thành cặp có tổng là 10: (1 + 9), (2 + 8), (3 + 7), (4 + 6). Trong mỗi cặp đó đều có một số lớn hơn 5 và một số nhỏ hơn 5.

Nếu Lạc Thư là cách sắp xếp theo tổng bằng nhau vậy thì nên hiểu Hà Đồ như thế nào? Hà Đồ là theo phép đồng dư. Lấy 5 làm trung tâm, cặp số đồng dư với 5 sẽ được đưa về cùng một phía. Ta có 1 và 6 đều chia 5 dư 1, hay một cách hiểu khác là 1 + 5 = 6, vì thế nên 1 và 6 được xếp cùng phía (ở đây vẫn ưu tiên 1 nằm về chính Bắc). Tương tự như vậy để ghép cặp các số còn lại. Một điểm lưu ý là các cặp số trong Hà Đồ luôn bao gồm một chẵn và một lẻ. Vị trí sắp xếp cũng theo tính chẵn lẻ đó mà xếp 2 đối xứng 1, 4 đối xứng 3. Khác với Lạc Thư, Hà Đồ kèm thêm cả số 10 ở giữa, thành số chẵn ứng với số lẻ là 5.
Vậy sau khi phân tích cả Hà Đồ và Lạc Thư, ta thấy một số điểm chung đó là các số được chia thành cặp và mỗi cặp lại gồm 2 số với tính chất khác nhau (lớn – nhỏ, chẵn – lẻ). Tuy cách nhìn nhận này có vẻ đơn giản, nhưng nếu mở rộng ra thì một cặp đối lập không chỉ tồn tại trong số mà còn tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác: Điện tích có âm-dương, trời có đêm-ngày, nhiệt có nóng-lạnh, không gian có trái-phải, trên-dưới, trước-sau, …. Có vẻ như bất kỳ vật gì cũng có bản đối lập của nó để hình thành một cặp. Từ ý tưởng đó mà Kinh Dịch vạch ra 2 quẻ âm dương để chỉ 2 tính chất đối lập đó của sự vật hiện tượng
Bát Quái
Vậy từ các quan sát ta thấy được rằng các tính chất chia làm 2 mảng đối lập. Tuy nhiên, để biểu thị cho các khái niệm, sự vật, hiện tượng khác nhau mà chỉ dùng 2 tính chất thì có vẻ như không đủ. Xét thấy các sự vật, hiện tượng, khái niệm thường có thể chia làm 3 phần: khởi đầu, phát triển, và kết thúc. Như thời gian chia làm quá khứ, hiện tại và tương lai (thứ khởi đầu nằm ở quá khứ, phát triển đến hiện tại và kết thúc vào tương lai). Không gian thì có trước-giữa-sau (bắt đầu trước vật thì là trước, phát triển đến vật thì thành giữa, qua khỏi vật rồi thì thành sau). Đời người chia làm trẻ-lớn-già. Ngay cả trong văn học, điện ảnh cũng chia câu chuyện ra làm 3 acts. Nhiều tôn giáo, tín ngưỡng cũng thường thấy các bộ 3 như trong Ấn Độ giáo có Tam thần Ấn giáo (Brahma – đấng tạo hóa, Vishnu – đấng bảo hộ, còn Shiva – đấng hủy diệt), hay thần thoại Hy Lạp có Zeus (cai quản cõi trời), Poseidon (cai quản biển cả và được cho là điều khiển các trận động đất) và Hades (cai quản âm giới). Dường như việc chia 3 khá phù hợp để biểu thị các giai đoạn, vị trí của sự vật hiện tượng. Vậy nếu ứng với mỗi vị trí – giai đoạn, ta áp dụng 2 tính chất âm dương thì ta sẽ có 2^3 = 8. Từ đó hình thành nên Bát Quái.

Trong Kinh Dịch, ta thường thấy các quẻ được gán với những hình tượng tự nhiên (Trời, Đất, Sông, Núi, …) hay gia đình (cha, mẹ, con trai trưởng, con gái trưởng, …). Không nên hiểu một cách trực tiếp các ý nghĩa như thế cho các quẻ mà bản chất các cách gán ấy nhằm biểu đạt cái khái niệm trừu tượng mà mỗi quẻ muốn ám chỉ:
- Càn (☰): Tượng Càn 3 quẻ dương. TÍnh dương hướng lên, nên quẻ này như bay lên trời, mặc cho mọi thứ, ý chí quyết tâm không gì cản nổi. Nếu lấy ví dụ thì những câu chuyện về ngu ông dời núi, hay như Thomas Edison quyết thử cả ngàn lần để làm ra bóng đèn dây tóc có thể xem là những ví dụ cho tính chất của quẻ Càn. Quẻ này đại diện cho ý chí, tầm nhìn xa, hoài bão. Tuy nhiên chăm chăm vào điều tốt đẹp thì ý chí đó tốt, còn nếu chăm chăm làm điều xấu thì sẽ thành ra cứng đầu. Nên mình hay gọi quẻ này là cứng đầu. Càn cũng thường được gắn với hình tượng người cha, người dẫn lối, người lãnh đạo, những người có ý chí, tầm nhìn để dẫn dắt người khác.
- Đoài (☱): Đoài 2 quẻ dương lại chịu nằm dưới quẻ âm, có sức nhưng chưa chảy nên mới ví như đầm hồ. Sự nhường nhịn của 2 quẻ dương thành ý nghĩa chính của quẻ. Nên Đoài thường mang ý nghĩa hòa thuận, dễ chịu, nhường nhịn, vui vẻ. Quẻ này được gán với hình tượng con gái út, ý chỉ sự dịu dàng, dễ chịu, nhún nhường.
- Ly (☲): Ly 2 quẻ dương ở ngoài, tỏa ra, được ví như ánh sáng, ánh lửa nên hay được gắn với lửa. Quẻ Ly thực muốn chỉ sự sáng suốt, sáng dạ, hiểu biết, minh triết. Chất Dương đem để ra ngoài thể hiện sự thông thoáng, dễ lan tỏa nên quẻ Ly chính trực, tư tưởng thoáng, không hẹp hòi. Quẻ này gắn với hình ảnh con gái thứ, chăm lo học hỏi, hiếu kỳ, tò mò.
- Chấn (☳): Chấn quẻ dương nằm dưới 2 quẻ âm. Quẻ dương có tính muốn lên lại bị 2 quẻ âm đè xuống nên nó muốn động, muốn đạp 2 quẻ âm sang 2 bên mà đi lên nên sự động là tính chất chung của quẻ Chấn. Như sấm sét xé mây, nên quẻ này hay được gán với sấm sét. Khác với cái chất hoài bão của Càn, Chấn muốn động vì không muốn bị ép thế hơn là vì nó muốn một hoài bão như thế. Vì tượng muốn đổi, muốn khởi nghiệp, muốn thay thế như vậy nên nó được gán với hình tượng con trai trưởng.
- Tốn (☴): Tốn 2 quẻ dương ở trên đi lên, âm đi xuống, không đụng chạm gì nhau, nên nó chỉ sự xuôi thuận. Xuôi thuận ở đây không hẳn là khiêm tốn, nhường nhịn như quẻ Đoài mà là sự chiều theo, nuông chiều. Tiêu cực hơn một chút thì có thể hiểu như là sự chấp nhận số phận, muốn đổi mà đành chịu thua (ngược với cái động của Chấn). Nên tượng này hiền hòa, mềm mỏng như gió, cũng là hình ảnh con gái trưởng chiều các em
- Khảm (☵): Khảm quẻ dương bị 2 quẻ âm kiềm kẹp lại ở giữa, không thoát đi được nên là tượng nước đọng. Cái chất của Khảm ngược với Ly. Ly cởi mở, phóng khoáng, sáng dạ thì Khảm hẹp hòi, bảo thủ, đố kỵ. Có tâm sự mà bị kẹt lại không giải thoát được nên sinh hiểm. Nó được gán như con trai thứ, bị kẹt ở giữa, khởi nghiệp không xong, lại cũng ko được chiều chuộng nên sinh lòng đố kỵ, hẹp hòi.
- Cấn (☶): Cấn quẻ dương đã đạp 2 quẻ âm mà ngoi lên trên, như mầm cây nhú lên, như núi đồi mọc lên nên nó được ví như Núi. Ý của quẻ chỉ sự trồi lên, xông xáo, có phần hiếu động. Như một người thích xung phong, giơ tay phát biểu, thích nổi trội. Có thể thấy sự ngược của nó với Đoài. Đoài thu mình lại, khiêm tốn, nhường nhịn, không tranh giành thì Cấn xông pha, hăng hái, trồi lên để thể hiện mình. Quẻ Cấn được ví như con trai út, năng động, trồi lên thể hiện mình nhưng có phần non trẻ và đơn giản.
- Khôn (☷): Khôn 3 quẻ âm, hoàn toàn chìm xuống, hoàn toàn đi về phía sau, làm nền để nâng đỡ những thứ khác nên tượng như là Đất, và cũng lấy hình tượng người mẹ hiền (Đất mẹ). Khôn hoàn toàn không có tham vọng hay ước mong ích kỷ gì, một lòng làm hậu cần vững chắc, thu hết mọi khó khăn vất vả. Khôn tính của nó bền bỉ, tận tụy, kết hợp với Càn sẽ thành một người ủng hộ vững chắc cho hoài bão của Càn.
Bát Quái mỗi quẻ tượng trưng cho một ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên trong Kinh Dịch không chỉ dừng lại ở Bát Quái. Dịch là nói về sự biến đổi. Một vật tự thân nó biến đổi như thế nào thì là do tương tác với những vật khác mà thành. Nước gặp lửa sẽ khác khi nước gặp đất. Trò giỏi gặp thầy hay sẽ khác với thầy dở. Vì vậy, xét lấy 2 sự vật hiện tượng kết hợp lại với nhau, mỗi sự vật có thể ứng với 8 quẻ thành ra 8*8 = 64 quẻ của Kinh Dịch. 64 quẻ Kinh Dịch này nói về mối quan hệ giữa các vật, sự vận động và phát triển của nó như thế nào
Bát Quái Đồ
Một trong những thứ thường thấy nữa trong Kinh Dịch chính là đồ hình Bát Quái (Bát Quái Đồ), hay nói cách khác là cách sắp xếp 8 quẻ này lên một hình bát giác đều. Vị trí của mỗi quẻ sẽ mang một ý nghĩa khác nhau.

Có hai đồ hình phổ biến nhất là tiên thiên bát quái đồ và hậu thiên bát quái đồ.
- Tiên thiên bát quái: Tiên thiên bát quái lấy các cặp quẻ đối xứng để sắp xếp.
- Hậu thiên bát quái: Hậu thiên bát quái được sắp xếp lại từ tiên thiên bát quái, nhằm cân bằng lại tổng giá trị mỗi bên âm dương. Nếu đổi các quẻ thành số nhị phân rồi cộng giá trị lại, ta sẽ có Càn (7) + Khảm(2) + Cấn(1) + Chấn(4)=14 (Cha và các con trai đưa về một phía). Tốn(3) + Ly(5) + Khôn (0) + Đoài(6)=14 (Mẹ và các con gái đưa về một phía).
0 Comments